Ngày 25/3/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018. Việc ban hành và triển khai hai Thông tư nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc tăng cường tính minh bạch của quy trình thủ tục hải quan và công tác quản lý thuế; chuẩn hóa hồ sơ, đơn giản hóa thủ tục hành chính; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trước yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới, một số quy định tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC và Thông tư số 39/2018/TT-BTC đã bộc lộ những vướng mắc, không còn phù hợp với thực tiễn triển khai hoặc phát sinh sự chồng chéo với các quy định pháp luật mới được ban hành.
Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực hải quan đã được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới, như Luật Quản lý thuế; Nghị định số 18/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ; Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015; Thông tư số 06/2021/TT-BTC ngày 22/01/2021.
Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan đã được điều chỉnh theo Quyết định số 382/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 2019/QĐ-BTC và Quyết định số 3865/QĐ-BTC ngày 17/11/2025, đặt ra yêu cầu phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan cho phù hợp với tổ chức bộ máy và yêu cầu quản lý trong tình hình mới.
Thông tư số 121/2025/TT-BTC ngày 18/12/2025 được xây dựng và ban hành nhằm quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kịp thời thống nhất, cập nhật các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực hải quan. Thông tư tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai mô hình hải quan số, hải quan thông minh, thực hiện Chiến lược phát triển hải quan đến năm 2030; đồng thời góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và xuất nhập cảnh phương tiện vận tải, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật.
Việc ban hành Thông tư nhằm đáp ứng yêu cầu tại Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 20/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 và Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ; Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan; cùng với Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung, cụ thể: Sửa đổi, bổ sung các nội dung nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu trong đó lồng ghép vấn đề chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền
1. Số hóa các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan (Điều 3, 16, 16a, 18 Thông tư 38)
Thực hiện Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ đã đưa ra nhiệm vụ “thực hiện số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính…” và để triển khai thực hiện thủ tục hải quan theo mô hình bộ máy tổ chức mới của ngành Hải quan, tại Thông tư 121/2025/TT-BTC đã quy định về việc khai và nộp các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan như sau:
- Quy định việc khai và nộp tờ khai, chứng từ được thực hiện qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Người khai hải quan phải lưu trữ bản chính các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan; tự chịu trách nhiệm về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình; về sự thống nhất nội dung thông tin giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ lưu tại cơ quan hải quan và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với việc chuyển đổi chứng từ từ bản giấy sang dạng chỉ tiêu thông tin điện tử. Cơ quan hải quan chỉ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
- Tại Thông tư chỉ liệt kê các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan (không quy định bản chụp hay bản chính).
- Người khai hải quan khai các chỉ tiêu thông tin về tờ khai hải quan, khai các chỉ tiêu thông tin về các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; quy định nguyên tắc trường hợp hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan chưa có chức năng tiếp nhận chỉ tiêu thông tin của các chứng từ thì người khai hải quan nộp bản scan có xác nhận bằng chữ kỹ số thông qua hệ thống.
Đồng thời, quy định thực hiện số hóa tất cả các chứng từ thuộc bộ hồ sơ trong thông quan dưới dạng chỉ tiêu thông tin, các chứng từ này hiện nay người khai hải quan phải nộp cho cơ quan hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc nộp trực tiếp cho cơ quan hải quan đối với trường hợp pháp luật quy định nộp bản chính.
Quy định trên sẽ tác động tích cực hoạt động xuất nhập khẩu, hồ sơ hoàn toàn dưới dạng dữ liệu điện tử hoặc gửi đến cơ quan hải quan qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, giúp cho việc thông quan hàng hóa được nhanh chóng, người khai hải quan không phải đến cơ quan hải quan nộp chứng từ giấy (trong trường hợp cơ quan quản lý chuyên ngành quy định nộp/xuất trình bản chính), tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, về phía cơ quan hải quan có dữ liệu tập trung. Để triển khai nội dung trên ngành Hải quan phải nâng cấp hệ thống để đảm bảo việc tiếp nhận, xử lý, trao đổi, chia sẻ dữ liệu.
2. Cắt giảm các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, phân cấp phân quyền:
2.1 Khai sửa đổi, bổ sung (Điều 20 Thông tư 38)
Tại Điều 20 Thông tư 38/2015TT-BTC đang quy định người khai hải quan phải nộp nhiều chứng từ để thực hiện khai sửa đổi bổ sung, với một số trường hợp đặc thù cơ quan hải quan bắt buộc phải thực hiện kiểm tra xác minh thông tin dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện thủ tục
Thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ về viêc cắt giảm các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, phân cấp phân quyền, Thông tư mới (121) đã quy định:
- Về hồ sơ: Đơn giản hóa hồ sơ người khai hải quan phải nộp khi khai bổ sung, theo đó chỉ gồm 2 chứng từ: (i)Văn bản ghi nhận việc và thống nhất phương án xử lý giữa người gửi và người nhận hàng trong trường hợp gửi thừa hàng, nhầm hàng, thiếu hàng: 01 bản chụp; (ii) Hóa đơn thương mại ghi nhận việc sửa đổi các thông tin về hàng hóa và giá trị hàng hóa: 01 bản chụp
- Về xử lý: Đối với trường hợp khai sửa đổi, bổ sung, sau khi kiểm tra hồ sơ cơ quan hải quan căn cứ thông tin hàng hóa còn trong khu vực giám sát hay không để xem xét xử lý theo hướng:
+ Trường hợp hàng hoá còn trong khu vực giám sát hải quan, Hải quan nơi đăng ký tờ khai quyết định kiểm tra thực tế hàng hoá và giải quyết tiếp thủ tục theo quy định.
+ Trường hợp hàng hoá đã đưa ra khỏi khu vực giám sát hải quan (một phần hoặc toàn bộ) cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ liên quan đến việc khai bổ sung, nếu kết quả kiểm tra phù hợp thì giải quyết tiếp thủ tục theo nguyên tắc người khai hải quan tự khai tự chịu trách nhiệm. Nếu kết quả kiểm tra không phù hợp thì từ chối không chấp nhận nội dung khai bổ sung và xử lý vi phạm (nếu có).
2.2. Đưa hàng về bảo quản (Điều 32 Thông tư 121)
Thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ về việc cắt giảm thủ tục hành chính, qua đánh giá thực tế thực hiện, tại Thông tư đã điều chỉnh, cắt giảm 03 chứng từ, gồm:
(i) Giấy đăng ký kiểm tra chuyên ngành có xác nhận của cơ quan kiểm tra chuyên ngành (trường hợp việc đăng ký kiểm tra chuyên ngành được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, người khai hải quan không phải gửi chứng từ này cho cơ quan hải quan);
(ii) Biên bản lấy mẫu có xác nhận của cơ quan kiểm tra chuyên ngành trong trường hợp lấy mẫu tại cửa khẩu.
(iii) Tài liệu chứng minh địa điểm đưa hàng về bảo quản là kho bãi có địa chỉ rõ ràng, được ngăn cách với khu vực xung quanh đảm bảo việc bảo quản nguyên trạng hàng hóa theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 33 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP.
Đồng thời hướng dẫn người khai khai các thông tin về chứng từ này vào đơn đề nghị đưa hàng về bảo quản theo các tiêu chí tại mẫu số 18 Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC.
2.3 Tái xuất hàng hóa bị từ chối nhận, gửi nhầm lẫn, không có người nhận (Điều 95,96 Thông tư 38)
Tại Thông tư 38/2015/TT-BTC đang quy định một cách thức xử lý chung cho các trường hợp tái xuất hàng hóa bị từ chối nhận, gửi nhầm lẫn, không có người nhận mà chưa hướng dẫn rõ cách thức xử lý đối với trường hợp hàng hóa bị từ chối nhận, hàng hóa không có người nhận, hàng hóa bị gửi nhầm, hàng hóa còn trong khu vực giám sát hải quan, hàng hóa đã đưa ra khỏi khu vực giám sát hải quan. Trong khi mức độ rủi ro và cách thức xử lý đối với các trường hợp này là khác nhau dẫn đến việc chưa tạo thuận lợi cho người khai hải quan.
Để thống nhất thực hiện thủ tục đối với trường hợp từ chối nhận hàng, tại Thông tư 121/2025/TT-BTC đã sửa đổi theo hướng quy định chi tiết từng trường hợp từ chối nhận hàng tại khoản 4 Điều 48 Nghị định 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 167/2025/NĐ-CP, đồng thời hướng dẫn rõ thủ tục xử lý đối với các trường hợp này.
3. Về địa điểm làm thủ nhập khẩu nguyên liệu để thực hiện loại hình gia công, SXXK (Điều 58 Thông tư 38)
Tại Điều 58 Thông tư số 38 quy định tổ chức, cá nhân thực hiện gia công, SXXK được lựa chọn thực hiện thủ tục hải quan nhập khẩu tại 01 Chi cục Hải quan: (1) Chi cục Hải quan nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh hoặc cơ sở sản xuất; (2) Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc Chi cục Hải quan cảng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được thành lập trong nội địa; (3) Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công, sản xuất xuất khẩu thuộc Cục Hải quan nơi có cơ sở sản xuất hoặc nơi có cửa khẩu nhập.
Để phù hợp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá tình thực hiện thủ tục, Thông tư 121/2025/TT-BTC đã quy định cụ thể về địa điểm làm thủ tục hải quan đối với trường hơp này như sau:
- Đối với doanh nghiệp không phải là DNCX: Tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị để gia công, sản xuất xuất khẩu tại cơ quan hải quan nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở chính, cơ sở sản xuất, chi nhánh hoặc tại cửa khẩu nơi nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị. Theo đó, tổ chức, cá nhân được thực hiện thủ tục NK hàng hoá tại các địa điểm theo quy định trên.
- Đối với doanh nghiệp chế xuất (DNCX):
+ Hàng hóa nhập khẩu của DNCX; hàng hóa là máy móc, thiết bị tạm nhập để phục vụ sản xuất, xây dựng nhà xưởng (kể cả trường hợp nhà thầu trực tiếp nhập khẩu); hàng hóa bảo hành, sửa chữa làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan quản lý địa bàn nơi có cơ sở sản xuất của DNCX;
+ Trường hợp DNCX có nhiều chi nhánh thì được lựa chọn làm thủ tục hải quan nhập khẩu tại cơ quan hải quan nơi có trụ sở chính hoặc cơ quan hải quan nơi có trụ sở chi nhánh của DNCX.
4. Về kiểm tra thực tế hàng hóa tại cơ sở sản xuất (Điều 29 Thông tư 38)
Theo quy định tại Điều 102 Thông tư số 38/2015/TT-BTC thì trường hợp doanh nghiệp muốn thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa tại cơ sở sản xuất thì phải thực hiện thủ tục đề nghị công nhận địa điểm kiểm tra tại cơ sở sản xuất;
Để tạo thuận lợi cho hoạt động kiểm tra hàng hoá GC, SXXK, CX, Thông tư 121/2025/TT-BTC đã bổ sung quy định tại khoản 10 Điều 29 theo hướng trường hợp hàng hóa thay đổi mục đích sử dụng, chuyển tiếp giữa các hợp đồng gia công, thanh lý máy móc, thiết bị, xuất nhập khẩu tại chỗ, nếu người khai hải quan đề nghị kiểm tra thực tế tại cơ sở sản xuất, chân công trình, nhà máy thì Đội trưởng Hải quan xem xét quyết định.
5. Trị giá hải quan (Điều 25 Thông tư 38)
- Theo quy định hiện hành tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025, các nội dung về tham vấn trị giá hải quan cơ bản được giữ nguyên. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy hình thức tham vấn trực tiếp hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phù hợp với bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, làm gia tăng thời gian, chi phí và nguồn lực cho cả cơ quan hải quan và doanh nghiệp.
Để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và giảm thủ tục hành chính, dự thảo Thông tư đề xuất bổ sung hình thức tham vấn gián tiếp thông qua Hệ thống. Theo đó, người khai hải quan, người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền thực hiện việc giải trình, chứng minh trị giá khai báo với cơ quan hải quan thông qua Hệ thống điện tử.
Người khai hải quan được đánh giá mức tuân thủ cao trở lên được quyền lựa chọn một trong hai hình thức tham vấn trực tiếp hoặc tham vấn gián tiếp. Quy định này nhằm nâng cao tính chủ động cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần hiện đại hóa công tác quản lý hải quan.
- Hoàn thiện cơ chế “Tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần”:
Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 chưa có quy định cụ thể về cơ chế tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần. Quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 còn mang tính khung, khó áp dụng trong thực tiễn, do đó cơ quan hải quan đã triển khai thí điểm theo Quyết định số 1304/QĐ-TCHQ và Công văn số 3002/TCHQ-TXNK.
Trên cơ sở đó, Thông tư sửa đổi, bổ sung đề xuất tiếp tục quy định cơ chế “tham vấn một lần, sử dụng kết quả tham vấn nhiều lần” theo hướng đơn giản hóa, tích hợp vào quy trình tham vấn hiện hành, phù hợp thông lệ quốc tế và định hướng cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Cụ thể:
+ Người khai hải quan được đề nghị áp dụng kết quả tham vấn đã có cho các lần xuất khẩu, nhập khẩu tiếp theo đối với cùng một mặt hàng.
+ Cơ quan hải quan xem xét chấp nhận trong trường hợp người khai hải quan được đánh giá mức tuân thủ cao trở lên.
+ Phạm vi áp dụng tại Chi cục Hải quan khu vực nơi đăng ký tờ khai, thời hạn áp dụng là 6 tháng; Thông báo bị hủy nếu phát hiện thông tin do người khai cung cấp không chính xác hoặc có vi phạm.
+ Hàng hóa được áp dụng kết quả tham vấn một lần, sử dụng nhiều lần khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về mức độ đánh giá tuân thủ, hiệu lực Thông báo, căn cứ pháp lý không thay đổi; nội dung khai báo trị giá hải quan trùng khớp với Thông báo đã ban hành và trị giá khai báo bằng hoặc cao hơn trị giá hải quan đã tham vấn, trừ trường hợp giá tham chiếu được điều chỉnh tăng theo Danh mục hàng hóa rủi ro về trị giá.
Việc cụ thể hóa các nội dung trên trong Thông tư sửa đổi, bổ sung góp phần cắt giảm thủ tục, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp và công chức hải quan, không làm phát sinh thủ tục hành chính mới, phù hợp với Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2025–2026.
- Phân cấp thẩm quyền xem xét điều chỉnh, trừ khoản giảm giá
Theo quy định hiện hành tại Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015, thẩm quyền xét giảm giá thuộc Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan (nay là Cục trưởng Cục Hải quan) và Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố (nay là Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực).
Để phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, Thông tư sửa đổi, bổ sung đã đề xuất điều chỉnh thẩm quyền xét giảm giá theo hướng tinh gọn. Theo đó, bỏ thẩm quyền xét giảm giá tại cấp Cục Hải quan, chỉ giữ thẩm quyền này tại Chi cục Hải quan khu vực.
Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực là người quyết định việc điều chỉnh trừ khoản giảm giá khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định tại điểm d.1 khoản 2 Điều 15 Thông tư số 39/2015/TT-BTC. Việc điều chỉnh này giúp rút ngắn quy trình xử lý, nâng cao tính chủ động của cơ sở và giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
6. Quy định về xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế:
Cắt giảm các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, phân cấp phân quyền khi thực hiện thủ tục xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (Điều 140 Thông tư 38)
- TTHC này đã được phân cấp nơi tiếp nhận hồ sơ giấy và xử lý hồ sơ từ Tổng cục Hải quan (nay là Cục Hải quan) thành Chi cục Hải quan khu vực hoặc đơn vị Hải quan (địa bàn mà Chi cục Hải quan khu vực không đóng trụ sở) nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh hoặc cơ sở sản xuất gần nhất;
- Thời hạn xử lý TTHC được rút ngắn từ 05 ngày làm việc xuống còn 03 ngày làm việc, tăng tốc độ giải quyết TTHC lên 40%;
- Bổ sung trường hợp sau khi xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế nhưng người nộp thuế chưa hoàn thành xong thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, đóng mã số thuế mà người nộp thuế muốn tiếp tục đăng ký tờ khai hải quan thì người nộp thuế hoặc cơ quan có đề nghị đơn vị đã xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế xác nhận để người nộp thuế được tiếp tục thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu.
Do đó:
- Đối với người nộp thuế: Đây là một bước tiến về "Dịch vụ công thuận tiện". Việc rút ngắn thời gian (3 ngày) và giảm khoảng cách địa lý (về Chi cục Hải quan khu vực hoặc đơn vị hải quan) giúp tiết kiệm chi phí gửi đi lại và gửi văn bản;
- Đối với Cơ quan Hải quan: Thể hiện hình ảnh một cơ quan quản lý hiện đại, lắng nghe và tháo gỡ điểm nghẽn (đặc biệt là quy định cho phép tiếp tục hoạt động XNK khi chưa hoàn tất giải thể);
- Kiểm soát thông tin: Thông điệp chủ đạo cần truyền tải là: "Hải quan Việt Nam 2026: Nhanh hơn - Gần hơn - Linh hoạt hơn";
Để thực hiện các thủ tục này, người nộp thuế có thể tham khảo hướng dẫn tại Cổng thông tin điện tử của Cục Hải quan hoặc thực hiện trực tuyến qua Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến ngành Hải quan.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan trong việc thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh
Thông tư số 121/2025/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung một số quy định theo hướng tăng cường quản lý, kiểm soát, gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, cụ thể:
1. Tăng cường quản lý đối với hàng hóa đưa về bảo quản (Điều 32), bảo đảm kiểm soát chặt chẽ hàng hóa trong thời gian chờ hoàn thành thủ tục hải quan.
2. Tăng cường công tác giám sát đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra và lưu giữ tại các khu chuyển tải (Điều 52b), hạn chế rủi ro gian lận, thất thoát hàng hóa.
3. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật tại các đơn vị kiểm định hải quan, đồng thời ứng dụng khoa học, công nghệ trong kiểm tra thực tế hàng hóa (Điều 29, Điều 31), góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát.
4. Tăng cường quản lý trong việc giải quyết thủ tục hải quan và quản lý đối với hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu, doanh nghiệp chế xuất (các Điều 55, 60, 74, 75, 80), bảo đảm tuân thủ pháp luật và phù hợp với thực tiễn quản lý hiện nay.
Rà soát, chuẩn hóa kỹ thuật văn bản và bãi bỏ các quy định không còn phù hợp
Bên cạnh các nội dung sửa đổi, bổ sung về nghiệp vụ, Thông tư số 121/2025/TT-BTC còn thực hiện rà soát, chỉnh lý kỹ thuật văn bản, cập nhật dẫn chiếu theo quy định tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP, đồng thời bãi bỏ các quy định không còn phù hợp, cụ thể:
1. Thay thế các cụm từ để đảm bảo đúng tên theo mô hình bộ máy mới.
2. Thay thế các nội dung dẫn chiếu để phù hợp với các quy định hiện hành.
3. Các nội dung bãi bỏ:
(i) Bãi bỏ toàn bộ các Thông tư sau do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 24/2012/TT-BTC ngày 17/02/2012; Thông tư số 72/2015/TT-BTC ngày 12/5/2015 và Thông tư số 07/2019/TT-BTC ngày 28/3/2019.
(ii) Bãi bỏ một phần các Thông tư do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành: Điểm d.3.2.3 khoản 2 Điều 15 Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015; Khoản 4 Điều 12; điểm c.4 khoản 1, khoản 2 Điều 14; Thông tư số 06/2021/TT-BTC ngày 21/01/2021. Mẫu số 03/NVTHQ, mẫu số 14/NVTHQ Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 06/2021/TT-BTC ngày 21/01/2021; Điều 2 Thông tư 47/2025/TT-BTC ngày 20/6/2025; Mẫu số 01/ĐKDMTB/2015, mẫu số 02/PTDTL-DMTB/2015, mẫu số 03/DMTBDKNK-NC/2015, mẫu số 04/PTDTL-TBNC/2015 Phụ lục ban hành kèm Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015.
(iii) Bãi bỏ Quyết định số 1200/2001/QĐ-TCHQ ngày 23/11/2001 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quy định chế độ quản lý, sử dụng các dấu nghiệp vụ hải quan và Điều 1 Quyết định số 19/2002/QĐ-TCHQ ngày 10/01/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại các Quyết định số 1200/2001/QĐ-TCHQ ngày 23/11/2001, số 1257/2001/QĐ-TCHQ ngày 04/12/2001, số 1494/2001/QĐ-TCHQ, số 1495/2001/QĐ-TCHQ, số 1548/2001/QĐ-TCHQ, số 1549/2001/QĐ-TCHQ, số 1550/2001/QĐ-TCHQ, số 1557/2001/QĐ-TCHQ ngày 28/12/2001 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan./.
Thu Huyền
| Title | Category | Created On |
|---|---|---|
| Thông tư 121/2025/TT-BTC: Nhiều sửa đổi, bổ sung tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu từ 1/2/2026 | General | 2026-01-20 07:54:27 |
| Hải quan Hàn Quốc đẩy mạnh đổi mới sáng tạo trong quản lý thương mại điện tử xuyên biên giới | General | 2026-01-16 16:01:55 |
| Integrity of global cargo supply chains: pursuing common safety and security objectives | General | 2026-01-08 15:39:15 |
| Việt Nam thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực hải quan với Vương quốc Anh | General | 2025-12-29 09:59:37 |
| Xuất nhập khẩu Việt Nam xác lập mốc 900 tỷ USD: Dấu ấn tạo thuận lợi thương mại của ngành Hải quan | General | 2025-12-26 21:41:46 |
|
A Quick Intro |
Search Trade Information
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Feature Information
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Information & Articles
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Contact Us! If you cannot find what you require in this website please feel free to contact us. Click here to send us a message >>>
|