Bảy tháng đầu năm 2026, nhập khẩu ô tô tăng cả về lượng và trị giá, trong đó xe vận tải có tốc độ tăng nổi bật. Bước sang tháng 8, lượng xe nhập về giảm so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn cùng kỳ. Diễn biến này cho thấy việc quản lý nhập khẩu cần bám sát cơ cấu từng nhóm xe, gắn tạo thuận lợi thông quan với thực hiện đúng chính sách thuế, xuất xứ và yêu cầu về chất lượng.
Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, trong bảy tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 148.696 ô tô nguyên chiếc, trị giá 3,45 tỷ USD, tăng 22,4% về lượng và 30,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch tăng nhanh hơn số lượng, đưa trị giá nhập khẩu bình quân tăng khoảng 6,5%. Quy mô nhập khẩu vì vậy tăng cùng với trị giá bình quân mỗi xe, đặt ra yêu cầu xem xét đóng góp của từng nhóm phương tiện vào tăng trưởng chung.
Trong tổng lượng xe nhập khẩu bảy tháng, ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống đạt 100.722 chiếc, tăng 9%; ô tô vận tải đạt 28.219 chiếc, tăng 86,5%. Xe vận tải chiếm khoảng 19% tổng lượng nhập khẩu, so với tỷ trọng ước tính 12,5% cùng kỳ năm trước. Như vậy, cơ cấu nhập khẩu đã dịch chuyển đáng kể theo hướng tăng vai trò của phương tiện vận chuyển hàng hóa. Đây là điểm khác biệt cần được tính đến khi đánh giá thị trường: mức tăng nhập khẩu ô tô phản ánh cả việc bổ sung phương tiện phục vụ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉ gắn với nhu cầu mua xe của hộ gia đình.
Xe chở người và xe vận tải chịu tác động của những quyết định đầu tư, sử dụng khác nhau; trong nội bộ nhóm xe vận tải, mỗi loại tải trọng, kết cấu và công dụng cũng đáp ứng một nhu cầu riêng. Vì vậy, tốc độ tăng số xe chưa thể chuyển trực tiếp thành tốc độ tăng năng lực vận chuyển. Đối với Hải quan, chính các đặc điểm kỹ thuật này là thông tin cần thiết để xác định mã số và áp dụng chính sách đối với hàng hóa, thay vì chỉ dựa vào tên gọi thương mại của mẫu xe.
Riêng tháng 7, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu đạt 27.686 chiếc, trị giá 597,25 triệu USD, tăng 8,1% về lượng và 3,1% về trị giá so với tháng 6. Xe từ 9 chỗ ngồi trở xuống chiếm 73,2% số lượng nhưng chỉ chiếm 62,3% trị giá; xe vận tải chiếm tương ứng 20% và 24,1%; ô tô loại khác chiếm 6,7% số lượng nhưng tới 13,4% trị giá. Chênh lệch giữa hai cơ cấu cho thấy tổng kim ngạch phụ thuộc không chỉ vào số xe nhập về mà còn vào tỷ trọng từng loại. Khi tỷ trọng xe có giá trị cao thay đổi, trị giá bình quân toàn nhóm cũng thay đổi dù giá giao dịch của cùng một mẫu xe có thể giữ nguyên.
Cơ cấu lượng và trị giá ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tháng 7/2026
Nguồn: Cục Hải quan, số liệu sơ bộ tháng 7/2026.
Nguồn cung trong tháng 7 tập trung chủ yếu từ Indonesia, Thái Lan và Trung Quốc, với tổng cộng 26.320 chiếc, chiếm khoảng 95% lượng nhập khẩu. Riêng Indonesia và Thái Lan chiếm 76,7%. Sự tập trung còn thể hiện theo chủng loại: hơn 98% xe vận tải đến từ Thái Lan và Trung Quốc, trong khi 92% ô tô loại khác có xuất xứ Trung Quốc. Cơ cấu này cho thấy nguồn cung ô tô vào Việt Nam gắn chặt với mạng lưới sản xuất khu vực. Vì vậy, khi theo dõi biến động nhập khẩu, cần đặt thay đổi của từng thị trường trong quan hệ với loại xe mà thị trường đó cung cấp; tổng lượng giảm chưa nhất thiết đồng nghĩa mọi phân khúc cùng giảm.
Dòng hàng cũng tập trung tại một số địa bàn làm thủ tục. Trong tháng 7, toàn bộ xe từ 9 chỗ ngồi trở xuống được đăng ký nhập khẩu tại khu vực cửa khẩu, cảng thuộc Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh; hơn 94% xe vận tải được đăng ký tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Lạng Sơn. Trên nền nhập khẩu tăng của 7 tháng đầu năm, tháng 8 ghi nhận sự điều chỉnh rõ về lượng. Theo số liệu ước tính, cả nước nhập khẩu 19.346 ô tô nguyên chiếc, trị giá khoảng 450 triệu USD; giảm 30,1% về lượng và 24,7% về trị giá so với tháng 7. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu bình quân của bảy tháng đầu năm vào khoảng 21.242 xe/tháng; so với mức bình quân này, tháng 8 thấp hơn khoảng 8,9%. Qua số liệu cho thấy quy mô giảm chịu ảnh hưởng đáng kể của nền nhập khẩu cao trong tháng liền trước.
So với tháng 8/2025, lượng ô tô nhập khẩu vẫn tăng 19,2%, trị giá tăng 24,4%; lũy kế tám tháng ước đạt khoảng 168 nghìn xe, trị giá 3,905 tỷ USD, tăng tương ứng 22% và 29,5%. Do đó, thay đổi nổi bật của tháng 8 là nhịp nhập khẩu chậm lại trong khi mức tăng so với cùng kỳ vẫn được duy trì. Doanh nghiệp nhập khẩu phải cân đối lượng hàng đã về với tiến độ phân phối và chi phí vốn; quyết định đặt hàng, lịch vận chuyển và thời điểm bán xe lại không trùng nhau. Mức giảm của một tháng vì thế cần được nhìn trong chu kỳ nhập hàng và tiêu thụ, chưa đủ để khẳng định nhu cầu thị trường đã chuyển sang suy giảm kéo dài.
Một thay đổi khác là trị giá nhập khẩu bình quân tháng 8 đạt khoảng 23,3 nghìn USD/xe, tăng khoảng 7,8% so với tháng 7. Trong khi lượng xe nhập khẩu giảm 30,1%, kim ngạch giảm 24,7%, cho thấy mức giảm về số lượng không đi cùng mức giảm tương ứng về trị giá. Tuy nhiên, trị giá bình quân tăng chưa đồng nghĩa giá nhập khẩu của từng loại xe tăng, bởi chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào cơ cấu chủng loại và phiên bản xe nhập về. Vì vậy, chưa thể từ số liệu tổng hợp kết luận doanh nghiệp đang chuyển sang nhập khẩu các dòng xe có giá trị cao hơn.
Bên cạnh ô tô nguyên chiếc, nhập khẩu linh kiện, phụ tùng trong 7 tháng đầu năm đạt 4,46 tỷ USD, tăng 40,9% so với cùng kỳ, vượt cả quy mô và tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu xe nguyên chiếc. Số liệu này cho thấy linh kiện, phụ tùng là một bộ phận đáng kể trong nhu cầu nhập khẩu của ngành ô tô. Tuy nhiên, do nguồn hàng phục vụ cả sản xuất, lắp ráp và sửa chữa, thay thế, mức tăng kim ngạch chưa đủ để xác định mức tăng đầu vào cho sản xuất trong nước. Việc đánh giá diễn biến tháng 8 vì vậy cần có thêm số liệu linh kiện, phụ tùng cùng kỳ, thay vì chỉ căn cứ vào lượng xe nguyên chiếc nhập về.
Về quản lý hải quan, những đặc điểm đáng chú ý là tỷ trọng xe vận tải tăng trong bảy tháng đầu năm, cùng sự tập trung nguồn cung và địa bàn làm thủ tục được ghi nhận trong tháng 7. Cơ cấu xe đa dạng về công dụng và thông số kỹ thuật đặt ra yêu cầu xác định chính xác hàng hóa để áp dụng đúng mã số, thuế và chính sách nhập khẩu. Sự tập trung của dòng hàng tạo điều kiện đối chiếu hồ sơ giữa các lô xe cùng loại, cùng nguồn cung và chia sẻ kết quả xử lý giữa các đơn vị hải quan. Dữ liệu này hỗ trợ đánh giá rủi ro và lựa chọn nội dung kiểm tra; biến động số lượng nhập khẩu tự nó không phải căn cứ để tăng mức độ kiểm tra đối với doanh nghiệp.
Trong cơ cấu nhập khẩu bảy tháng đầu năm, xe vận tải là nhóm có tốc độ tăng cao. Đối với nhóm phương tiện này, công dụng, kết cấu và thông số kỹ thuật là những thông tin cần xem xét khi phân loại hàng hóa. Việc xác định mã số phải căn cứ vào hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và thông tin liên quan, theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Vì vậy, mô tả đầy đủ đặc điểm của xe trong hồ sơ nhập khẩu có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định mã số, làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.
Nguồn cung tập trung từ Thái Lan và Indonesia cho thấy điều kiện hưởng ưu đãi thuế theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) có ý nghĩa đối với nhiều lô xe nhập khẩu. Tuy nhiên, việc xe được nhập từ các thị trường này chưa đủ để được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Lô hàng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định, trong đó có quy tắc xuất xứ và chứng từ chứng nhận xuất xứ. Vai trò của cơ quan Hải quan là kiểm tra căn cứ hưởng ưu đãi, bảo đảm áp dụng đúng chính sách thuế đối với từng lô hàng.
Về trị giá hải quan, cần phân biệt trị giá nhập khẩu bình quân dùng trong phân tích thống kê với trị giá được xác định để tính thuế cho hàng hóa nhập khẩu. Các xe cùng nhãn hiệu có thể khác nhau về phiên bản, trang bị và điều kiện mua bán, nên chênh lệch giá chưa đủ để kết luận khai báo không chính xác. Việc xác định trị giá phải tuân thủ các phương pháp và điều kiện áp dụng theo quy định, trong đó phương pháp trị giá giao dịch được ưu tiên khi đáp ứng đủ điều kiện. Do đó, mức bình quân của toàn bộ xe nhập khẩu trong tháng không thể dùng thay cho căn cứ xác định trị giá của một lô xe cụ thể.
Đối với điều kiện kinh doanh, Bộ Công Thương thực hiện thẩm quyền cấp và quản lý Giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô; việc duy trì điều kiện bảo hành, bảo dưỡng và trách nhiệm triệu hồi của doanh nghiệp có ý nghĩa đối với chất lượng dịch vụ sau bán hàng. Khi lượng xe nhập khẩu tích lũy tăng, trách nhiệm với người sử dụng tiếp tục phát sinh sau khi xe đã thông quan. Vì vậy, thông tin về hiệu lực giấy phép và các quyết định xử lý liên quan cần được trao đổi kịp thời với cơ quan Hải quan, cơ quan đăng kiểm để việc cấp phép, nhập khẩu và thực hiện nghĩa vụ sau bán hàng được quản lý thống nhất.
Khi xe và phụ tùng đi vào phân phối trong nước, lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra, xử lý hành vi kinh doanh hàng nhập lậu, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và các vi phạm thuộc thẩm quyền. Nếu xuất hiện dấu hiệu làm giả hồ sơ hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan phát hiện chuyển thông tin, hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền, trong đó có cơ quan Công an, để xác minh, xử lý. Kết nối thông tin từ thị trường trở lại hồ sơ nhập khẩu giúp xác định lô hàng, doanh nghiệp liên quan và phục vụ kiểm tra theo rủi ro, thay vì để việc kiểm soát dừng ở từng khâu riêng biệt.
Nhập khẩu ô tô trong 7 tháng đầu năm và sự điều chỉnh của tháng 8 cho thấy yêu cầu quản lý đồng thời về quy mô, cơ cấu và điều kiện của dòng hàng. Hiệu quả quản lý thể hiện ở khả năng xác định đúng hàng hóa, áp dụng đúng nghĩa vụ thuế, kiểm soát chất lượng và xử lý kịp thời vi phạm, đồng thời bảo đảm tiến độ thông quan cho doanh nghiệp đáp ứng quy định. Sự phối hợp giữa Hải quan, cơ quan cấp phép, đăng kiểm và lực lượng kiểm tra thị trường là cơ sở để nguồn cung nhập khẩu đáp ứng nhu cầu hợp pháp, bảo vệ người tiêu dùng và duy trì môi trường kinh doanh minh bạch.
Thùy Linh
| Title | Category | Created On |
|---|---|---|
| Quy hoạch chung Khu vực cửa khẩu Chi Ma theo hướng cửa khẩu thông minh, gắn phát triển logistics với hiện đại hóa quản lý hải quan | General | 2026-09-11 22:15:21 |
| Nhập khẩu ô tô 8 tháng đầu năm 2026: Chuyển dịch cơ cấu và yêu cầu quản lý hải quan | General | 2026-09-11 22:14:01 |
| Thông quan, logistics và cửa khẩu thông minh trong phát triển hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Vân Nam | General | 2026-09-11 22:11:19 |
| Xuất nhập khẩu Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực, phấn đấu đạt mốc 1.000 tỷ USD | General | 2026-09-11 22:05:06 |
| HỘI THẢO QUỐC TẾ TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN VÀ TRIỂN KHAI HIỆP ĐỊNH GMS-CBTA | General | 2026-09-08 16:50:01 |
|
A Quick Intro |
Search Trade Information
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Feature Information
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Information & Articles
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Contact Us! If you cannot find what you require in this website please feel free to contact us. Click here to send us a message >>>
|