Latest articles

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA): Những chuyển biến trong thương mại Việt Nam


Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA): Những chuyển biến trong thương mại Việt Nam

Sau sáu năm thực thi, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) đã góp phần mở rộng quan hệ thương mại Việt Nam với Liên minh châu Âu và cải thiện khả năng tận dụng ưu đãi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tăng trưởng kim ngạch chưa đồng nghĩa với gia tăng tương ứng giá trị thu được trong nước. Kết quả thực thi cho thấy cần tiếp tục nâng cao năng lực đáp ứng xuất xứ, chất lượng sản phẩm và hiệu quả thủ tục để khai thác đầy đủ hơn lợi ích của Hiệp định.

Hiệp định EVFTA được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Châu Âu (EU) đồng ý khởi động đàm phán vào năm 2010, chính thức tuyên bố khởi động đàm phán vào năm 2012 và kết thúc đàm phán kỹ thuật vào năm 2015. Hiệp định đã được hai bên chính thức ký kết vào ngày 30/6/2019 tại Hà Nội sau nhiều lần đàm phán. Ngày 12/02/2020, Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Ngày 08/6/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định EVFTA.

Việc kết thúc đàm phán thành công và từ đó tiến tới ký kết Hiệp định là một chặng đường dài với sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ với mục tiêu nâng mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Liên minh châu Âu lên một tầm cao mới nói riêng và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung. Đây là hiệp định thương mại tự do kiểu mới giữa Việt Nam và 27 nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU).

Hiệp định gồm 17 Chương, 8 Phụ lục, 2 Nghị định thư, 2 Biên bản ghi nhớ và 4 Tuyên bố chung điều chỉnh nhiều vấn đề truyền thống như cắt giảm thuế quan, mở cửa lĩnh vực dịch vụ và đầu tư… và phi truyền thống như phát triển bền vững, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước…với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý và thể chế. Với mức độ cam kết đạt được, EVFTA được coi là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.

Về thương mại hàng hóa, EU cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 85,6% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, nâng lên 99,2% sau lộ trình bảy năm. Việt Nam có lộ trình dài hơn, với mức xóa bỏ tương ứng 48,5% khi Hiệp định có hiệu lực và 98,3% sau mười năm; các dòng thuế còn lại thực hiện theo cam kết riêng. Ưu đãi được áp dụng cho hàng hóa đáp ứng điều kiện xuất xứ và các yêu cầu liên quan, không tự động áp dụng cho mọi sản phẩm được xuất khẩu từ lãnh thổ của một bên. Bên cạnh thuế quan, EVFTA quy định về đơn giản hóa thủ tục hải quan, minh bạch thông tin, quản lý rủi ro và hợp tác giữa các cơ quan thực thi. Các cam kết về hàng rào kỹ thuật, an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật hỗ trợ trao đổi thông tin, xử lý vướng mắc trong tiếp cận thị trường. Vì vậy, đánh giá kết quả sau sáu năm cần xem xét đồng thời sự phát triển của thương mại, mức độ sử dụng ưu đãi và khả năng đáp ứng những điều kiện để duy trì hoạt động kinh doanh.

Thương mại mở rộng với động lực chính từ xuất khẩu

Đối với Việt Nam, EVFTA là hiệp định có độ cam kết và độ mở toàn diện cao hơn so với những hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết. Khác với các Hiệp định thương mại thông thường, EVFTA thường được gọi là “Hiệp định thương mại sâu sắc” vì không phải chỉ đòi hỏi những cải tổ về mậu dịch hàng hóa, mà còn cải tổ ở các lĩnh vực khác gọi là “cải tổ phi biên giới”. Đó là các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ, bảo vệ sở hữu trí tuệ, giảm thủ tục hải quan, bảo vệ môi trường, ngăn chặn vai trò các công ty quốc doanh, mua sắm hàng hóa nhà nước, giải quyết các tranh chấp, nghĩa là đi xa hơn các thỏa thuận của WTO.

Chuỗi số liệu Eurostat do Ủy ban châu Âu công bố cho thấy thương mại hàng hóa Việt Nam với EU tăng từ 45,61 tỷ EUR năm 2019, trước khi EVFTA có hiệu lực, lên 76,05 tỷ EUR năm 2025, tương ứng tăng khoảng 66,7%. Trong cùng thời gian, xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng khoảng 85,1%, trong khi nhập khẩu từ EU tăng khoảng 9,7%. Các mức tăng được tính từ số liệu gốc, cho thấy xuất khẩu đóng vai trò chủ yếu trong việc mở rộng quy mô thương mại hai chiều.

Biểu đồ 1. Thương mại hàng hóa Việt Nam với EU giai đoạn 2019–2025

Biểu đồ 1. Thương mại hàng hóa Việt Nam với EU giai đoạn 2019-2025

Nguồn: Eurostat Comext, Ủy ban châu Âu

Diễn biến từng năm cũng cho thấy tăng trưởng không diễn ra liên tục. Sau mức tăng cao năm 2022, tổng kim ngạch giảm khoảng 7,5% năm 2023, rồi phục hồi trong hai năm tiếp theo. Nhịp biến động này cho thấy một hiệp định thương mại có thể cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường nhưng không loại bỏ ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế và nhu cầu nhập khẩu. Do đó, cần phân biệt kết quả thương mại ghi nhận trong giai đoạn thực thi với phần tăng trưởng do riêng EVFTA tạo ra.

Về vị thế thị trường, Ủy ban châu Âu xác định Việt Nam là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của EU trong ASEAN năm 2025. Hàng EU nhập từ Việt Nam tập trung ở máy móc, thiết bị, giày dép và dệt may; hàng EU xuất sang Việt Nam nổi bật ở máy móc, hóa chất và phương tiện vận tải. Cơ cấu này phản ánh tính bổ sung giữa hai nền kinh tế và khả năng kết nối thương mại với nhu cầu hiện đại hóa sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu lớn chưa đủ để kết luận doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sâu hơn vào những công đoạn có giá trị cao. Kim ngạch hàng công nghiệp có thể tăng nhờ mở rộng sản lượng gia công, lắp ráp, trong khi phần nguyên liệu, công nghệ hoặc dịch vụ phải mua từ bên ngoài vẫn lớn. Để đánh giá chất lượng kết quả, cần xem xét thêm tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước, sự tham gia của doanh nghiệp nội địa và khả năng làm chủ thiết kế, chế biến, phân phối. Những nội dung này không thể suy ra chỉ từ số liệu xuất nhập khẩu.

Ở chiều nhập khẩu, khả năng khai thác công nghệ và thiết bị từ EU cũng cần được coi là một mặt của hiệu quả thực thi. Doanh nghiệp có thể sử dụng điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn để đổi mới dây chuyền, nâng năng suất và đáp ứng tiêu chuẩn sản phẩm. Khi nhập khẩu phục vụ nâng cao năng lực sản xuất, lợi ích của Hiệp định được chuyển tiếp vào chất lượng hàng xuất khẩu. Vì vậy, đánh giá EVFTA chỉ dựa vào mức xuất siêu sẽ chưa phản ánh đầy đủ giá trị của quan hệ thương mại hai chiều.

Khả năng tận dụng ưu đãi cải thiện nhưng đà tăng đã chững lại

Số liệu chứng nhận xuất xứ cho thấy phạm vi sử dụng ưu đãi EVFTA đã mở rộng. Theo bảng tổng hợp của VCCI từ số liệu Bộ Công Thương và cơ quan Hải quan, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O mẫu EUR.1 tăng từ 20,2% năm 2021 lên 25,9% năm 2022 và 35,2% năm 2023. Tỷ lệ năm 2024 ở mức khoảng 35,1%; thông tin cập nhật của Bộ Công Thương cho năm 2025 là khoảng 34,6%.

Biểu đồ 2. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O ưu đãi EVFTA giai đoạn 2021–2025

Biểu đồ 2. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O ưu đãi EVFTA giai đoạn 2021-2025

Nguồn: Bộ Công Thương

Mức tăng trong giai đoạn 2021-2023 cần được nhìn nhận trong bối cảnh thay đổi cơ chế ưu đãi. Kể từ năm 2023, khi xuất khẩu hàng hoá vào các thị trường có ký kết EVFTA, các doanh nghiệp Việt Nam không còn được áp dụng cơ chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà phải áp dụng cơ chế ưu đãi thuế quan theo các cam kết của Hiệp định EVFTA. Vì vậy, tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi EVFTA tăng, do doanh nghiệp chuyển từ hưởng ưu đãi GSP sang EVFTA, đồng thời đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về xuất xứ hàng hóa.

Đánh giá mức độ tận dụng ưu đãi EVFTA cần gắn với lợi ích giảm thuế của từng nhóm hàng. Đối với mặt hàng có thuế suất tối huệ quốc (MFN) bằng 0%, áp dụng EVFTA không làm giảm thêm thuế nhập khẩu. Với mặt hàng có chênh lệch nhỏ giữa thuế suất MFN và thuế suất EVFTA, số thuế tiết kiệm được có thể không đủ bù đắp chi phí chứng minh xuất xứ. Vì vậy, tỷ lệ kim ngạch sử dụng C/O cần được xem xét cùng mức tiết kiệm thuế và chi phí thực hiện, tránh đồng nhất mọi trường hợp không sử dụng C/O với việc bỏ lỡ lợi ích từ Hiệp định.

Đối với những mặt hàng có thể hưởng lợi đáng kể từ cắt giảm thuế, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ là điều kiện quan trọng để sử dụng ưu đãi. Tùy từng sản phẩm, các quy tắc này đặt ra yêu cầu về nguồn nguyên liệu, công đoạn gia công, chế biến hoặc hàm lượng giá trị. Nếu hàng hóa chưa đáp ứng các yêu cầu đó, việc hoàn thiện hồ sơ ở khâu xuất khẩu không đủ để được hưởng thuế suất ưu đãi. Do đó, khi đánh giá những hạn chế trong tận dụng EVFTA, cần phân biệt khó khăn do hàng hóa chưa đáp ứng quy tắc xuất xứ với khó khăn trong việc lập hồ sơ và xác minh xuất xứ. Sự phân biệt này giúp xác định đúng nguyên nhân và lựa chọn biện pháp hỗ trợ phù hợp.

Theo công bố năm 2026 của EuroCham về 6 năm thực thi EVFTA, khoảng một nửa số doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam tham gia thương mại song phương được khảo sát ghi nhận hưởng lợi trực tiếp từ ưu đãi thuế quan. Trong nhóm doanh nghiệp gặp khó khăn khi tận dụng Hiệp định, 33% đề cập đến quy tắc xuất xứ, hồ sơ C/O và yêu cầu xác minh. Những phản hồi này cho thấy ưu đãi thuế quan đã mang lại lợi ích thực tế, nhưng việc đáp ứng và chứng minh xuất xứ vẫn là trở ngại đối với một bộ phận doanh nghiệp được khảo sát..

Nâng cao chất lượng thực thi và giá trị thu được từ Hiệp định

Từ kết quả 6 năm, vấn đề đặt ra là làm cho ưu đãi được sử dụng ổn định và tạo tác động rõ hơn đến năng lực cạnh tranh. Các hoạt động hỗ trợ cần tập trung vào những nhóm hàng có chênh lệch thuế đáng kể nhưng gặp khó khăn về xuất xứ hoặc tiêu chuẩn. Việc hướng dẫn chung về Hiệp định nên được nối tiếp bằng tư vấn theo sản phẩm, nguồn nguyên liệu, thị trường nhập khẩu và phương thức giao dịch. Đây là cơ sở để doanh nghiệp tính được lợi ích và chi phí trước khi lựa chọn phương án kinh doanh.

Về hợp tác hải quan, Hiệp định EVFTA tập trung phát triển các sáng kiến chung liên quan tới thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu và các thủ tục hải quan khác, kể cả hỗ trợ kỹ thuật để đảm bảo cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp; tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hải quan tại các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới và Tổ chức Hải quan Thế giới và nếu thích hợp, thiết lập cơ chế công nhận lẫn nhau về các chương trình đối tác thương mại và kiểm soát hải quan kể cả các biện pháp tạo thuận lợi thương mại tương đương.

Trong thời gian qua Hải quan Việt Nam tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong khuôn khổ WCO, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và cam kết thành viên của tổ chức này. Công tác tham mưu và ký kết các điều ước/thỏa thuận quốc tế song và đa phương theo hiệp định EVFTA bám sát công tác nghiệp vụ, tăng cường tính hiệu quả tạo tiền đề cho các hoạt động hội nhập và hợp tác sâu trong kiểm tra giám sát hải quan, kiểm soát chống buôn lậu và gian lận thương mại, chú trọng các kênh trao đổi thông tin, hỗ trợ điều tra, xác minh, tạo thuận lợi cho chuỗi cung ứng toàn cầu. Các hoạt động trao đổi, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan trong phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trên cơ sở các khuôn khổ hợp tác quốc tế của Hải quan Việt Nam đã được chú trọng, chủ động, nâng cao vị thế của Hải quan Việt Nam trong các vấn đề kiểm soát chung của khu vực và quốc tế, góp phần tạo điều kiện khai thác các lợi thế, thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại hợp pháp giữa Việt Nam và các đối tác. Bên cạnh đó, qua công tác phân tích thông tin, Hải quan Việt Nam đã chủ động cung cấp cho nhiều cơ quan hải quan nước ngoài trong khuôn khổ hiệp định EVFTA thực hiện bắt giữ các vụ buôn lậu xuyên biên giới. Trên cơ sở tôn trọng thẩm quyền, pháp luật mỗi nước, những thông tin, kết quả điều tra có được từ hoạt động hợp tác chống buôn lậu giữa song phương luôn đem lại hiệu quả thiết thực vì những thông tin này khi được chuyển hóa thành chứng cứ luôn có những giá trị xác thực và phát huy kết quả tốt trong đấu tranh với những hành vi buôn lậu và gian lận thương mại. Hoạt động trao đổi thông tin nghiệp vụ Hải quan trong phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại đã được thực hiện với nhiều hình thức, nội dung hết sức phong phú. Nội dung hợp tác giữa hai bên đa dạng từ thiết lập khuôn khổ chính sách hợp tác; trao đổi thông tin, hỗ trợ nghiệp vụ điều tra, tạo điều kiện cán bộ công chức hải quan tham gia công tác điều tra tại mỗi bên; hỗ trợ về kỹ thuật cho đến tổ chức giao lưu, hội nghị luân phiên... Các hình thức và nội dung hợp tác đã góp phần tăng cường hiểu biết, chia sẻ trách nhiệm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Việc mở rộng thị trường EU gắn ngày càng chặt với năng lực đáp ứng yêu cầu về an toàn, chất lượng và môi trường. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU (CBAM) đã áp dụng giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026 đối với hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh. Doanh nghiệp liên quan cần chuẩn bị dữ liệu sản xuất, phát thải và phối hợp với nhà nhập khẩu. Đây là quy định của EU cần được tuân thủ đồng thời với các điều kiện hưởng ưu đãi EVFTA; giảm thuế nhập khẩu không thay thế nghĩa vụ đáp ứng những yêu cầu này. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ thử nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và thông tin quy định có ý nghĩa thiết thực. Ở cấp ngành hàng, liên kết giữa nhà sản xuất nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến và đơn vị xuất khẩu sẽ giúp giảm tình trạng đáp ứng tiêu chuẩn ở khâu cuối nhưng thiếu căn cứ từ những khâu đầu của chuỗi cung ứng.

Nhìn lại 6 năm thực thi, EVFTA đã tạo thêm điều kiện thuận lợi để thương mại Việt Nam với EU phát triển, trong đó kết quả rõ nhất là mở rộng xuất khẩu và nâng mức sử dụng ưu đãi so với giai đoạn đầu. Sự chững lại của tỷ lệ C/O và yêu cầu thị trường ngày càng cao cho thấy dư địa tiếp theo nằm ở năng lực sản xuất và chất lượng thực thi. Khi doanh nghiệp đáp ứng tốt xuất xứ, nâng giá trị sản phẩm và giảm được chi phí giao dịch, lợi ích của Hiệp định mới được khai thác bền vững và lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.

                                                                                                                                                                                                                         Thùy Linh


Most Recent Bài viết


Bài viết

Contents
 

 

Upcoming Events