Bài viết mới nhất

“Độ vênh” pháp luật kinh doanh trước thay đổi từ Covid-19


“Độ vênh” pháp luật kinh doanh trước thay đổi từ Covid-19

 

“Độ vênh” pháp luật kinh doanh trước thay đổi từ Covid-19
Các doanh nghiệp vẫn còn lo ngại về quy định pháp lý gây cản trở hoạt động kinh doanh. Ảnh: ST

Còn “vênh” và “thiếu”

Dịch bệnh Covid-19 khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Nhiều chính sách hỗ trợ về tài chính như miễn giảm thuế, phí; miễn giảm nghĩa vụ tài chính đổi với một số ngành chịu ảnh hưởng nặng… đã được ban hành, được các doanh nghiệp đánh giá là các chính sách đã nhìn “trúng” và “đúng” các đối tượng cần hỗ trợ.

Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, chưa có tiền lệ nên theo đánh giá của các chuyên gia, cơ quan nhà nước đã phải áp dụng, điều chỉnh, thay đổi rất nhiều chính sách phòng chống dịch để phù hợp ở từng thời điểm. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế suy giảm và độ phủ vắc xin đang tăng lên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 chuyển hướng chính sách phòng chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Tuy nhiên, muốn phục hồi lại kinh tế, doanh nghiệp rất cần Nhà nước tháo gỡ những “điểm nghẽn” đang cản trở hoạt động kinh doanh.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), dịch bệnh khiến các hoạt động kinh tế của nước ta vận hành theo cách thức trước nay chưa có tiền lệ. Dịch bệnh cũng thúc đẩy doanh nghiệp chuyển dịch sang các phương thức kinh doanh khác truyền thống. Về cơ bản, hệ thống pháp luật kinh doanh điều chỉnh cho các hoạt động kinh tế ở trạng thái bình thường. Do đó khi áp dụng cho trường hợp đặc biệt như dịch bệnh sẽ có độ “vênh” nhất định, nhiều trường hợp không có quy định, tạo ra khoảng trống pháp lý, gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp.

Chẳng hạn, với quy đinh về giờ làm thêm trong doanh nghiệp. Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, giới hạn làm thêm giờ không quá 200 giờ/năm, đối với một số ngành, nghề đặc thù là không quá 300 giờ/năm, số giờ làm thêm được khống chế chặt không quá 40 giờ/tháng. Tuy nhiên, trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát, doanh nghiệp đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lao động do người lao động bị cách ly do nhiễm Covid-19, người lao động bỏ việc về quê… Khi trở lại sản xuất, nhu cầu tăng ca, tăng giờ làm việc để hoàn thành đơn hàng, giữ được khách hàng là rất cấp bách. Do vậy, yêu cầu giới hạn về giờ làm thêm như quy định hiện hành khiến cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.

Ngoài ra, với quy định về việc gia hạn giấy chứng nhận lưu hành đối với thuốc, nguyên liệu làm thuốc, Luật Dược quy định giấy đăng ký lưu hành thuốc có giá trị 5 năm kể từ ngày cấp. Khi hết hạn, doanh nghiệp phải thực hiện việc gia hạn giấy phép đăng ký lưu hành. Khảo sát của VCCI cho thấy, trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19, việc gia hạn giấy chứng nhận lưu hành gặp nhiều khó khăn bởi doanh nghiệp thiếu nhân sự để chuẩn bị hồ sơ, do yêu cầu làm việc giãn cách; nhiều giấy tờ trong hồ sơ phải chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự tại nước sở tại. Ở các nước này cũng do ảnh hưởng của dịch bệnh nên nhiều trường hợp không làm việc hoặc làm việc giãn cách. Do đó, doanh nghiệp có được các loại giấy tờ này rất khó khăn.

Trong khi đó, pháp luật về dược không có quy định kéo dài hiệu lực của giấy chứng nhận đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc. Việc không được gia hạn giấy chứng nhận đăng ký lưu hành, cùng với hiện trạng, nhiều nhà máy sản xuất thuốc bị ngừng trệ sản xuất do biện pháp phong tỏa, giãn cách, làm cho chuỗi cung ứng thuốc bị đứt gãy vì thiếu hụt nguồn thuốc, nguyên liệu làm thuốc.

Ngoài ra, theo các doanh nghiệp, trong bối cảnh dịch bệnh, pháp luật kinh doanh đang thiếu nhiều quy định liên quan. Chẳng hạn, pháp luật chưa quy định giải quyết cho trường hợp người lao động phải làm việc ở nhà. Bởi khi làm việc ở nhà cũng nảy sinh một số vấn đề liên quan đến chính sách cho người lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động, giờ làm việc, hiệu suất làm việc; những thỏa thuận khác trong thỏa ước lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động…

Vì thế, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, các nhà làm chính sách cần xem xét lại và xây dựng pháp luật theo hướng: những vấn đề nào chỉ phù hợp trong thời kỳ dịch bệnh thì cần có cơ chế để điều chỉnh quy định trong khoảng thời gian này, những vấn đề nào cần phải điều chỉnh lại ngay cả khi mọi thứ quay trở lại bình thường thì phải sửa đổi bổ sung hoặc thay thế quy định.

Lo ngại tạo thêm gánh nặng chi phí

Cùng với những lo ngại về tình trạng pháp luật kinh doanh chưa theo kịp tình hình và diễn biến kinh tế, dịch bệnh, các doanh nghiệp vẫn còn lo ngại về các quy định pháp lý gây cản trở hoạt động kinh doanh.

Theo bà Trần Hoàng Yến, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), thời gian qua, nhiều nhà máy chế biến thủy sản kêu khó khi gặp vướng mắc sau thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngành môi trường khi áp dụng quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 11-MT:2015/BTNMT về nước thải chế biến thủy sản. Các vi phạm chủ yếu ở các nội dung vượt ngưỡng chỉ tiêu phốt-pho (P), ni-tơ (N). Việc đặt ra hàng loạt quy chuẩn quá cao đang khiến các doanh nghiệp thủy sản khó đạt được, không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nội địa mà cả vấn đề xuất khẩu của toàn ngành.

Bà Yến cho biết, hiện Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có dự thảo mới sẽ thay thế cả cho QCVN 40 (nước thải công nghiệp) và QCVN 11 (nước thải chế biến thủy sản), đưa nước thải chế biến thủy sản vào chung QCVN nước thải công nghiệp. Các chỉ tiêu trong dự thảo này đang ngặt nghèo hơn QCVN 11-MT:2015 rất nhiều: Phospho chỉ từ 4-6mg/l, Nitơ chỉ từ 20-40 mg/l, Amoni chỉ từ 5-10 mg/l. Điều này đang thực sự gây ra quan ngại rất lớn cho cộng đồng doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, bởi mức độ này vừa không phù hợp với thực tiễn, với đặc thù ngành hàng và đặc biệt không phù hợp với khả năng công nghệ xử lý nước thải hiện hành.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trong bối cảnh hiện nay, điều đáng mừng là pháp luật kinh doanh đã có khả năng thích ứng tốt, có nhiều chính sách mới nhưng đây cũng là thời cơ để xem lại pháp luật kinh doanh đã ban hành, để thấy còn phù hợp hay không để rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho hợp lý. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luôn có khoảng cách giữa quy định với khả năng thực thi, giữa thời gian thực hiện và năng lực của người đứng ra thực hiện. Do đó, theo bà Phạm Chi Lan, các chính sách, các quy định về kinh doanh khi đưa ra cần thực hiện sớm và nhanh, phải có tính đồng bộ, khả năng tiên liệu cũng như trách nhiệm giải trình để nâng cao chất lượng thực thi.

(Theo Tạp chí Hải quan)


Bài viết mới nhất

Tiêu đềHạng mụcTạo ngày
General2022-06-30 00:14:47
General2022-06-30 00:08:42
General2022-06-30 00:03:29
General2022-06-29 23:57:17
General2022-06-29 23:15:02

Tìm kiếm tất cả Bài viết

Dành cho thành viên

Tìm kiếm trang web
Nội dung

Giới thiệu nhanh

Tìm kiếm thông tin thương mại 

Hàng hóa và thuế suất

Văn bản pháp quy

Biện pháp và Tiêu chuẩn

Thủ tục

Biểu mẫu

 

Thông tin nổi bật

Hiệp định thương mại tự do

Thông tin tiếp cận thị trường 

Kho tư liệu thương mại ASEAN

Điểm hỏi đáp về SBS/TBT

 

Thông tin và bài viết 

Tin tức

Ấn phẩm

Thông báo

Trang liên kết


Hãy liên hệ chúng tôi!

Nếu không tìm thấy thông tin quý vị cần trên trang web này, xin hãy liên hệ với chúng tôi. Nhấp chuột vào đây để gửi thông điệp cho chúng tôi >>>

 

Sự kiện sắp tới